Phụ cấp nhà ở cho người lao động có phải chịu thuế TNCN không? Đây là khoản thu nhập thường xuất hiện trong chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp nhưng không phải trường hợp nào cũng được tính thuế giống nhau. Vậy năm 2026, tiền nhà ở do doanh nghiệp chi trả hoặc hỗ trợ được tính thuế TNCN như thế nào? Cùng Luật Hoàng Đức tìm hiểu chi tiết qua bài viết dưới đây
Mục lục bài viết
1. Phụ cấp nhà ở cho người lao động có tính thuế TNCN không?

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động.
Trong đó, tiền nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo cũng được xem xét khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN. Tuy nhiên, pháp luật phân biệt giữa trường hợp doanh nghiệp tự xây nhà cho người lao động và trường hợp doanh nghiệp trả thay tiền thuê nhà.
1.1. Doanh nghiệp xây nhà cho người lao động: Không tính thuế TNCN
Trường hợp doanh nghiệp xây nhà ở cho người lao động đang làm việc tại đơn vị và cho người lao động hưởng lợi ích từ nhà ở này, khoản lợi ích về nhà ở không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Quy định này cũng áp dụng đối với các khoản tiền điện, tiền nước và dịch vụ kèm theo, nếu có.
Như vậy, nếu doanh nghiệp trực tiếp xây dựng nhà ở để bố trí cho người lao động sử dụng thì người lao động không phải cộng khoản lợi ích về nhà ở này vào thu nhập chịu thuế TNCN.
1.2. Doanh nghiệp trả thay tiền thuê nhà: Tính thuế nhưng có giới hạn 15%
Trường hợp doanh nghiệp trả thay tiền thuê nhà, tiền điện, tiền nước và các dịch vụ kèm theo cho người lao động thì khoản lợi ích này được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Tuy nhiên, không phải toàn bộ số tiền doanh nghiệp trả thay đều mặc nhiên tính vào thu nhập chịu thuế.
Khoản tiền được tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế doanh nghiệp trả thay nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế của người lao động phát sinh tại đơn vị, chưa bao gồm tiền thuê nhà, điện, nước và các dịch vụ kèm theo.
Có thể hiểu đơn giản:
- Doanh nghiệp xây nhà cho người lao động: Khoản lợi ích về nhà ở không tính thuế TNCN.
- Doanh nghiệp trả thay tiền thuê nhà: Khoản tiền nhà được tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế trả thay nhưng tối đa bằng 15% tổng thu nhập chịu thuế theo quy định.
Do đó, khi xác định thuế TNCN, người lao động và doanh nghiệp cần xác định đúng hình thức hỗ trợ nhà ở thay vì chỉ căn cứ vào tên gọi “phụ cấp nhà ở”.
2. Phụ cấp nhà ở có tính vào tiền lương đóng BHXH không?
Bên cạnh thuế TNCN, một vấn đề khác doanh nghiệp thường quan tâm là khoản hỗ trợ tiền nhà có phải tính đóng BHXH bắt buộc hay không.
Theo hướng dẫn tại Công văn 1198/CTL&BHXH-BHXH và khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH, các khoản chế độ và phúc lợi khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động không được xác định là tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc. Trong đó có khoản hỗ trợ tiền nhà ở.
Vì vậy, nếu khoản hỗ trợ tiền nhà ở được doanh nghiệp ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động và được xác định là khoản hỗ trợ, không phải tiền lương thì khoản này không tính vào tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc. Một số khoản hỗ trợ, chế độ phúc lợi khác cũng có thể thuộc nhóm không tính vào tiền lương đóng BHXH khi đáp ứng điều kiện theo quy định, chẳng hạn:
- Hỗ trợ xăng xe;
- Hỗ trợ điện thoại;
- Hỗ trợ đi lại;
- Tiền ăn giữa ca;
- Hỗ trợ tiền giữ trẻ;
- Hỗ trợ nuôi con nhỏ;
- Tiền thưởng sáng kiến;
- Một số khoản hỗ trợ, trợ cấp khác theo quy định.
Lưu ý: Việc xác định một khoản tiền có phải đóng BHXH hay không không chỉ dựa vào tên gọi của khoản tiền. Doanh nghiệp cần xem xét bản chất khoản chi, cách thỏa thuận và nội dung được ghi nhận trong hợp đồng lao động.
3. Phân biệt phụ cấp nhà ở khi tính thuế TNCN và đóng BHXH
Một khoản tiền nhà ở có thể được xử lý khác nhau khi tính thuế TNCN và khi xác định tiền lương đóng BHXH. Đối với thuế TNCN, trọng tâm là xác định người lao động có nhận được lợi ích về nhà ở từ người sử dụng lao động hay không và khoản lợi ích đó thuộc trường hợp nào theo quy định về thu nhập chịu thuế.
Trong khi đó, đối với BHXH bắt buộc, cần xác định khoản tiền nhà có phải là khoản tiền lương, phụ cấp lương hoặc khoản bổ sung khác được thỏa thuận trong hợp đồng lao động và thuộc tiền lương làm căn cứ đóng BHXH hay là khoản hỗ trợ, phúc lợi được ghi nhận riêng.
Do đó, doanh nghiệp không nên áp dụng máy móc kết quả xác định thuế TNCN để kết luận về nghĩa vụ đóng BHXH đối với khoản hỗ trợ tiền nhà.
>>> Xem Thêm Nếu Nghỉ Việc Khi Công Ty Bị Mua Lại, Sáp Nhập Thì Tính Trợ Cấp Từ Khi Nào?
4. Doanh nghiệp cần lưu ý gì khi chi phụ cấp, hỗ trợ tiền nhà cho người lao động?

Để hạn chế phát sinh vướng mắc khi tính thuế và đóng BHXH, doanh nghiệp nên:
Thứ nhất, xác định rõ hình thức hỗ trợ nhà ở.
Cần phân biệt doanh nghiệp xây nhà cho người lao động sử dụng với trường hợp doanh nghiệp trả thay tiền thuê nhà.
Thứ hai, quy định rõ khoản hỗ trợ trong hợp đồng lao động.
Nếu doanh nghiệp có chính sách hỗ trợ tiền nhà, nội dung này nên được thể hiện rõ ràng, phù hợp với bản chất khoản chi và quy định pháp luật.
Thứ ba, xác định riêng nghĩa vụ thuế TNCN và BHXH.
Không nên mặc định khoản tiền không tính đóng BHXH thì cũng không chịu thuế TNCN, hoặc ngược lại.
Thứ tư, lưu giữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ liên quan.
Đối với trường hợp doanh nghiệp trả thay tiền thuê nhà, cần có hồ sơ, chứng từ chứng minh khoản tiền thực tế đã chi trả để làm căn cứ xác định thu nhập chịu thuế theo quy định.
Như vậy, phụ cấp nhà ở là khoản thu nhập cần được xác định đúng cách khi tính thuế TNCN và BHXH. Nếu doanh nghiệp hoặc người lao động còn vướng mắc về cách tính cụ thể, hãy liên hệ Luật Hoàng Đức qua Hotline: 1900.633.268 để được hỗ trợ.
Liên hệ Luật Hoàng Đức
Văn phòng Hà Nội: Tòa CEO Tower, đường Phạm Hùng, phường Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Điện thoại: 1900.633.268
Email: [email protected]
Website: https://luathoangduc.vn
Fanpage: Luật Hoàng Đức
