Nếu Nghỉ Việc Khi Công Ty Bị Mua Lại, Sáp Nhập Thì Tính Trợ Cấp Từ Khi Nào?

Công ty bị mua lại, sáp nhập khiến nhiều người lao động băn khoăn: thời gian làm việc tại công ty cũ có được tính khi nghỉ việc hay không, và trợ cấp thôi việc được tính từ thời điểm nào? Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý khi doanh nghiệp thay đổi chủ sở hữu hoặc tổ chức lại hoạt động. Luật Hoàng Đức sẽ giúp người lao động hiểu rõ cách xác định thời gian và mức trợ cấp thôi việc trong trường hợp này

1. Công ty bị mua lại, sáp nhập, nếu nghỉ việc thì tính trợ cấp từ khi nào?

Cam kết định hướng lộ trình pháp lý rõ ràng cho doanh nghiệp
Cam kết định hướng lộ trình pháp lý rõ ràng cho doanh nghiệp

Khi công ty bị mua lại hoặc sáp nhập, người lao động thường lo lắng rằng thời gian đã làm việc tại công ty cũ sẽ bị “tính lại từ đầu”. Tuy nhiên, về nguyên tắc, thời gian làm việc trước khi doanh nghiệp được mua lại, sáp nhập vẫn được ghi nhận nếu người lao động tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động kế thừa.

Theo Điều 201 Luật Doanh nghiệp 2020, sáp nhập là trường hợp một hoặc một số công ty chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại.

Về quan hệ lao động, khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu do chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc bán, cho thuê doanh nghiệp, người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm tiếp tục sử dụng người lao động và thực hiện các nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật.

Do đó, nếu người lao động tiếp tục làm việc tại công ty mới sau khi công ty cũ bị mua lại hoặc sáp nhập thì thời gian làm việc tại công ty cũ được cộng với thời gian làm việc tại công ty mới để xác định thời gian làm việc thực tế.

Nói cách khác, khi sau này người lao động nghỉ việc và thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc, thời gian làm việc để tính trợ cấp không mặc nhiên tính lại từ ngày công ty mới tiếp nhận người lao động, mà được xác định trên cơ sở tổng thời gian làm việc thực tế theo quy định.

2. Mỗi năm làm việc được nhận bao nhiêu tiền trợ cấp thôi việc?

Theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, khi hợp đồng lao động chấm dứt thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc, người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên được người sử dụng lao động trả trợ cấp thôi việc. Mức trợ cấp thôi việc là: mỗi năm làm việc được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương.

Trong đó, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được xác định bằng:

  • Tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động – thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp – thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm.
  • Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

Như vậy, không phải toàn bộ số năm làm việc đều được dùng để tính trợ cấp thôi việc. Người lao động cần xác định chính xác khoảng thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và những khoảng thời gian trước đó đã được doanh nghiệp chi trả trợ cấp.

>>> Xem Thêm Tổ Chức Đại Diện Người Lao Động Tại Cơ Sở Là Gì?

3. Nghỉ việc có được nhận cả trợ cấp thôi việc và trợ cấp thất nghiệp không?

Gọi ngay tổng đài 1900.633.268 để được tư vấn pháp luật miễn phí
Gọi ngay tổng đài 1900.633.268 để được tư vấn pháp luật miễn phí

Theo quy định, thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là người lao động không thể đồng thời hưởng trợ cấp thôi việc và trợ cấp thất nghiệp.

Điểm quan trọng nằm ở khoảng thời gian làm việc nào được dùng để tính từng loại trợ cấp.

Ví dụ, trong quá trình làm việc có những khoảng thời gian người lao động không thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng vẫn được tính là thời gian làm việc thực tế để tính trợ cấp thôi việc. Khi đủ điều kiện, người lao động có thể vừa được doanh nghiệp chi trả trợ cấp thôi việc đối với khoảng thời gian này, vừa được hưởng trợ cấp thất nghiệp đối với thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp.

4. Người lao động cần lưu ý gì khi công ty bị mua lại, sáp nhập?

Khi doanh nghiệp thay đổi chủ sở hữu hoặc thực hiện sáp nhập, người lao động nên lưu giữ các tài liệu thể hiện quá trình làm việc như hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng, quyết định tiếp nhận, quyết định điều chuyển và các giấy tờ liên quan đến quá trình đóng bảo hiểm.

Đặc biệt, nếu sau khi mua lại, sáp nhập doanh nghiệp ký lại hợp đồng lao động với người lao động, việc ký hợp đồng mới không đồng nghĩa với việc thời gian làm việc trước đó đương nhiên bị mất.

Khi nghỉ việc, cần đối chiếu:

  • Thời điểm bắt đầu làm việc tại công ty cũ;
  • Thời điểm công ty được mua lại hoặc sáp nhập;
  • Thời gian tiếp tục làm việc tại công ty mới;
  • Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp;
  • Khoảng thời gian đã từng được chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm.

Từ đó mới có thể xác định chính xác thời gian được tính trợ cấp thôi việc và số tiền người lao động được nhận.

Công ty bị mua lại, sáp nhập không có nghĩa là mọi quyền lợi của người lao động bị tính lại từ đầu. Việc xác định trợ cấp thôi việc cần căn cứ vào quá trình làm việc thực tế, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp và các khoản trợ cấp đã được chi trả trước đó.

Nếu chưa rõ thời gian làm việc tại công ty cũ có được cộng vào thời gian làm việc tại công ty mới hay không, hoặc muốn kiểm tra mình được hưởng bao nhiêu tiền trợ cấp khi nghỉ việc, người lao động có thể liên hệ Luật Hoàng Đức Hotline: 1900.633.268 để được tư vấn cụ thể.

Liên hệ Luật Hoàng Đức

Văn phòng Hà Nội: Tầng 23, CEO Tower, đường Phạm Hùng, phường Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Điện thoại: 1900.633.268

Email: [email protected]

Website: https://luathoangduc.vn

Fanpage: Luật Hoàng Đức

5/5 - (1 bình chọn)
Avatar tác giả
Luật sư Nguyễn Huy Hoàng
Đã kiểm duyệt nội dung

Luật sư và Đấu giá viên Nguyễn Huy Hoàng, với 15 năm kinh nghiệm Luật sư, 05 năm kinh nghiệm đấu giá viên. Luật sư chuyên xử lý các vụ án dân sự, hình sự, kinh tế...

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *